Skip to content
Le Hong Nam
Quay lại

Bằng cấp mua được tư cách, không mua được phán đoán

Năm 19 tuổi, tôi vừa đi học, vừa làm vài việc linh tinh, vừa vận hành một khách sạn nhỏ. Trước đó vài tháng, những người đi trước đã chỉ tôi cách “gửi phong bì” để bôi trơn các khâu giấy phép, kiểm tra, hồ sơ. Tôi làm theo, và đúng là mọi thứ trôi chảy thật.

Một buổi chiều, anh trưởng công an khu vực gọi điện: “Nam ơi ra quán X đi, anh giới thiệu em với các anh khác để tiện bề công việc.”

Tôi đinh ninh đây là thủ tục tiếp theo mà ai làm nghề này cũng phải qua. Rửa mặt, thay đồ, phóng xe ra quán.

Tới nơi, đập vào mắt tôi là một cảnh tượng ngoài dự tính: cuộc nhậu đã gần tàn. Anh trưởng phòng giới thiệu tôi qua loa với mấy người ngồi cạnh, mọi người gật đầu xã giao vài cái rồi… thôi, không ai buồn nói thêm lời nào. Tôi ngồi chỏng chơ suốt mười lăm phút, ngơ ngác không hiểu mình đang đóng vai gì trong cái bàn này, cũng chẳng biết phải làm sao cho phải phép. Rồi câu nói đó vang lên, câu nói mà mười tám năm sau tôi vẫn nhớ như in:

“Nay em ra mắt các anh nên em thanh toán bàn này nhé.”

Tôi đáp ngay tắp lự, không kịp nghĩ thêm một giây nào. Đang làm ăn mà, đây là chi phí kinh doanh, mình đã chuẩn bị sẵn tinh thần cho những khoản này rồi. “Vâng anh.”

Cái “vâng anh” đó thổi bay gần hai tháng lợi nhuận của khách sạn. Ngay sau cái gật đầu của tôi, cục diện bàn nhậu đảo chiều. Anh trưởng phòng bốc máy gọi thêm bảy tám chiến hữu nữa tới. Rượu xịn liên tục được khui. Mồi ngon được bưng ra tới tấp. Từ một cuộc nhậu sắp tàn, bỗng dưng “tăng hai” được mở ra ngay tại chỗ, và tôi, ngồi chình ình ngay đó, nghiễm nhiên trở thành chủ xị.

Đã trót “vâng” thì hết đường lui. Không thể đứng lên bỏ về, cũng chẳng dám từ chối chai rượu nào mới mở, vì cái thế mà tôi vừa bước chân vào không cho phép làm vậy. Một bữa ăn đổi bằng xấp xỉ hai tháng doanh thu của cái khách sạn. Đúng một bữa ăn.


Lúc ấy, tôi đang là sinh viên năm hai của một chương trình MBA. Trên giảng đường, các giáo sư dạy tôi về Vận đơn (Bill of Lading), về Toán cao cấp. Dĩ nhiên, cảnh bàn nhậu bên trên không nằm trong bất kỳ cuốn giáo trình nào.

Hôm đó, tôi không chỉ mất tiền. Tôi được (và mất tiền cho) một bài học đắt giá về cách đọc vị con người, đọc bối cảnh, và hiểu cách mà cái xã hội làm ăn ở Việt Nam thực sự vận hành. Bài học đó, cộng thêm vài vố tương tự trong những tháng tiếp theo, đã buộc tôi phải tự hỏi một điều mà giảng đường không thể trả lời: Nếu trường học không chuẩn bị cho tôi đối phó với những cảnh đời thực như thế, thì cái tôi đang trả tiền để học thật sự mang lại giá trị gì? Tôi kể lại câu chuyện này không phải để phán xét cách xã hội Việt Nam vận hành, mà bởi vì đó chính là khoảnh khắc tôi nhìn thấy sự vênh nhau quá lớn giữa những gì trường dạy và những gì thực tế đòi hỏi.


Phải mất một thời gian khá dài tôi mới gọi tên được rõ ràng hai khái niệm mà bản thân vẫn luôn đánh đồng.

Thứ nhất là tư cách (Credential). Tư cách là tấm bằng, là tín hiệu mà thị trường lao động cần để mở cửa cho bạn bước vào, là vị thế (standing) mà giới chuyên môn dùng để xác nhận bạn là người đáng được lắng nghe. Tư cách trả lời cho câu hỏi: “Bạn có quyền được phát biểu không?”. Đây chính là thứ tài sản mà các trường học đang bán chạy nhất, và họ bán rất sòng phẳng: bạn bỏ tiền, bỏ thời gian, bạn nhận lại tấm bằng và tất cả những đặc quyền đi kèm nó. Chẳng có gì sai trái trong cuộc giao dịch này.

Thứ hai là phán đoán (Judgment). Phán đoán là khả năng đọc vị một tình huống nằm ngoài sách vở, dám đưa ra quyết định khi không có sẵn đáp án mẫu, và đủ bản lĩnh để gánh chịu hậu quả từ quyết định đó. Phán đoán trả lời cho câu hỏi: “Bạn phát biểu có đúng không?”. Phán đoán chỉ mài giũa được qua va vấp thực tế, và trường học không bao giờ bán nó.

Hai khái niệm này thoạt nghe có vẻ dính dáng đến nhau, tới mức người ta thường mặc định chúng là một. Rằng cứ có “tư cách” thì nghiễm nhiên sẽ có “phán đoán”. Cứ cầm tấm bằng trên tay thì tự khắc biết cách ra quyết định. Việc đánh đồng hai thứ này tạo ra một cú “hớ” về định giá (pricing error) mà cả xã hội đang phải è lưng ra gánh.


Để hiểu tại sao trường học không thể cấp cho bạn khả năng phán đoán, ta cần nhìn lại xem bản chất trường học được thiết kế ra để làm gì.

Trường học xoay quanh một trục duy nhất: cái gì cũng phải có đáp án. Từ bài tập, đề thi cho đến những tình huống giả định (case study), tất thảy đều đã được dọn sẵn lời giải và tính toán kỹ lưỡng từ trước. Cấu trúc đóng khung này không phải là một khiếm khuyết mà là điều kiện bắt buộc để có thể đào tạo hàng triệu người cùng lúc mà vẫn kiểm soát được chất lượng đầu ra. Thử nghĩ xem, nếu không có đáp án chuẩn mực, thì lấy cơ sở nào để chấm điểm, so sánh và cấp bằng công nhận?

Khả năng phán đoán thì ngược lại hoàn toàn, chỉ được trui rèn qua những quyết định không hề có đáp án mẫu. Trường được thiết kế để triệt tiêu chính cái biến số đó.

Đây là điểm mấu chốt tôi muốn bạn đọc kỹ: Trường học cách ly người học khỏi những hậu quả thực tế. Nó là tính năng cốt lõi, không phải là lỗi (bug) của hệ thống giáo dục. Bạn rớt một môn, bạn không bị phá sản. Bạn làm sai một bài luận, bạn không để mất một khách hàng lớn. Bạn đưa ra một quyết định tồi tệ trong một tình huống giả định, cũng chẳng có nhân viên nào bị sa thải, không có gia đình nào lâm vào cảnh lao đao. Khi gạt bỏ hết hậu quả thực tiễn sang một bên, trường học biến thành một bến đỗ an toàn chỉ để nạp kiến thức và cày tư cách, nhưng hệ lụy đi kèm là nó đánh mất luôn công cụ duy nhất để rèn luyện sự phán đoán.

Trong cuốn The Case Against Education (2018), tác giả Bryan Caplan ước tính rằng khoảng 70 đến 80% giá trị kinh tế của một tấm bằng đại học nằm ở vai trò “phát tín hiệu” cho thị trường lao động, chứ không nằm ở kiến thức hay năng lực thực chất mà sinh viên học được. Dù không hoàn toàn đồng tình với Caplan, tôi vẫn thấy con số đó rất đáng suy ngẫm. Thực chất, thứ mà thị trường lao động đang chi tiền mua phần lớn là một tín hiệu đảm bảo: nó chứng minh bạn đủ kiên nhẫn để ngồi mài đũng quần suốt bốn năm trời, đủ khả năng để lọt qua các màng lọc của nhà trường, và do đó, bạn xứng đáng có một tấm vé bước vào vòng phỏng vấn ban đầu. Tất cả những thứ đó định hình nên “tư cách”, chứ không hề đả động gì tới “phán đoán”.


Vậy nếu phán đoán không sinh ra từ trường học, thì nó đến từ đâu? Nassim Taleb đã dành trọn vẹn cuốn Skin in the Game (2018) để gọi tên cơ chế này: Bạn chỉ thực sự học được khi chính bạn phải trả giá cho những quyết định của mình. Không có hậu quả thực tế, thì không có sự học thực chất. Bạn có thể ngồi nghe, cặm cụi ghi chép, gật gù đắc ý, thậm chí ảo tưởng rằng mình đã thẩm thấu trọn vẹn - nhưng đó vẫn chưa phải là học.

Có thể bạn chưa từng rơi vào cảnh bị lột sạch hai tháng tiền lãi trên một bàn nhậu lạ hoắc như tôi. Nhưng nếu bạn từng trải qua một cuộc họp mà sếp buông vài lời “gợi ý” mập mờ đầy ẩn ý, một thương vụ mà đối tác tỏ ra “tin tưởng” bạn một cách bất thường, hay những khoảnh khắc gia đình lấy lý do “lo cho tương lai của con” để áp đặt một ngã rẽ, thì lúc đó bạn đã nếm chung một mùi vị với tôi rồi đấy. Tất cả đều là những ván bài không có luật chơi định sẵn, đi kèm những cái giá rất thật. Và chúng sẽ dạy bạn những bài học mà không trường lớp nào dám dạy.

Cái bàn nhậu năm 19 tuổi ấy, cùng hai tháng lợi nhuận “bốc hơi”, là một bài học tôi có muốn quên cũng không được. Nó hằn sâu vào trí nhớ vĩnh viễn, không phải vì tôi cố ép mình phải nhớ, mà bởi cái giá phải trả hoàn toàn bằng tiền tươi thóc thật, cộng thêm cảm giác uất ức bất lực tột cùng khi bị biến thành con cờ giữa một mâm toàn người lạ. Phản xạ đó lưu thẳng vào xương tủy trước cả khi não bộ kịp nảy số. Về sau, cứ hễ ai gọi điện rủ tôi ra quán với cái motif tương tự, một cơ chế phòng vệ sẽ tự động kích hoạt trước cả khi não bộ kịp phân tích: tôi đã biết cách “đọc vị” cảnh đó.

Cũng chính câu chuyện đó, đem đi kể trong một buổi workshop MBA cho hai mươi học viên cặm cụi ghi chép. Nghe thấm lắm, ai nấy gật gù, vài người giơ điện thoại chụp lại slide. Nhưng sáu tháng sau, hỏi có mấy ai áp dụng được vào đời thực? Rất hiếm. Vì khoảng cách giữa “nghe kể lại” và “tự mình trải qua” chính là vực thẳm của hậu quả thực tế. Cuối cùng, đó vẫn chỉ là một câu chuyện của người khác, không bao giờ hóa thành bài học máu thịt của họ.

Trong cuốn Thinking, Fast and Slow (2011), Daniel Kahneman chia tư duy ra làm hai hệ thống: Hệ thống 1 là phản xạ nhanh, vô thức, được trui rèn qua vô số lần va chạm thực tế; Hệ thống 2 là kiểu phân tích chậm rãi, có ý thức. Nhà trường làm rất xuất sắc việc dạy Hệ thống 2: cung cấp các khung tư duy (framework), các mô hình và kỹ năng phân tích. Nhưng Hệ thống 1 thì chỉ có thể hình thành khi bạn liên tục đối mặt hậu quả thật, trải qua hàng ngàn lần vấp váp và nhận về những phản hồi (feedback) ngay tắp lự. Đó là lý do tại sao những người được đào tạo vô cùng bài bản lại thường xuyên xử lý rất cồng kềnh và phân tích sai bét một tình huống ngoài đời - vì họ chỉ có sẵn Hệ thống 2, và họ đang gồng mình dùng nó để lấp liếm cho sự vắng mặt của Hệ thống 1.

Tất nhiên, phải nói rõ một điều quan trọng: “Skin in the game” chỉ là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ. Thiếu gì những người bầm dập te tua, gánh hậu quả liên tục nhưng phán đoán vẫn không khá khẩm hơn, đó là vì họ thiếu mất yếu tố thứ hai: một cơ chế feedback đủ sắc bén để chỉ ra họ đã sai ở đâu. “Skin in the game” cộng với phản hồi chính xác mới rèn được phán đoán. Còn “skin in the game” mà mù mờ về lỗi lầm thì chỉ là lặp lại những cái sai y chang nhau nhưng với chi phí ngày càng cắt cổ.

Và cũng xin đính chính: “skin in the game” của chính bạn là con đường trực diện nhất, nhưng không phải độc đạo. Học “ké” (vicarious learning) từ những người đã đổ máu trên chiến trường (thông qua một mentor cứng cựa hay một cuốn sách đúc kết từ những người đã sống sót) sẽ giúp bạn đi nhanh hơn rất nhiều, với điều kiện bạn phải đứng đủ gần để cảm nhận được sức nóng từ hậu quả mà họ đã trải qua. Điểm bất biến ở đây là yếu tố hậu quả, chứ không phải ai là người lãnh thẹo.

Đó cũng là lý do vì sao ngay cả ngành Y (một lĩnh vực đòi hỏi “tư cách” khắt khe nhất xã hội hiện đại) vẫn bắt buộc một người trẻ phải trải qua bảy năm (hoặc hơn) đào tạo nội trú (residency) sau khi đã lấy bằng y khoa để thực sự thành một bác sĩ. Tấm bằng y khoa chỉ cấp cho họ “tư cách”. Nhưng chính bảy năm ăn dầm nằm dề trong bệnh viện, đối mặt với bệnh nhân bằng xương bằng thịt, những ca trực trắng đêm, những sai lầm có thật và các rủi ro sinh tử, đó mới là lò luyện sinh ra “phán đoán”.

Cứ để ý mà xem: bất kỳ nghề nào đòi hỏi sự nghiêm túc tuyệt đối đều tự động gắn thêm một pha “skin in the game” đi sau chứng chỉ: bác sĩ thì có nội trú (residency), luật sư có thời gian tập sự (clerkship), kiến trúc sư phải đi thực tập (intern), thợ thủ công thì cần người thầy kề vai sát cánh (mentorship). Hệ thống đã tự nó công nhận sự thật trần trụi: tấm bằng thôi là chưa đủ. Nực cười thay, những người duy nhất chưa nhận ra điều này lại chính là phần đông những kẻ đang vung tiền học MBA, Thạc sĩ, và các chứng chỉ hào nhoáng khác (những chương trình đào tạo bị khuyết mất khâu rèn luyện bắt buộc sau khi tốt nghiệp).


Bây giờ ngẫm lại mới thấy, mâm nhậu năm 19 tuổi ấy đã quăng cho tôi cả một khóa học thực chiến về những kỹ năng mà các vị giáo sư uyên bác đành bó tay.

Khai vị là kỹ năng đọc bối cảnh. Bàn nhậu đã vãn mà tôi mới được réo tên tới, rõ ràng tôi chỉ là “món tráng miệng” để gỡ gạc chứ chẳng phải khách khứa gì tầm này. Vị trí thời gian trong một cuộc nhậu bóc trần vai trò thật sự của bạn. Lúc ấy, tôi ngây thơ mù tịt trước những tín hiệu đó. Giờ thì tôi đọc vị được chúng chỉ trong vài tích tắc.

Món chính là cách đọc vị con người. Ai là kẻ giật dây gọi mình ra? Động cơ phía sau màn kịch này là gì? Lớp vỏ bọc của lời mời che đậy lợi ích của phe nhóm nào? Cái câu “anh giới thiệu em với các anh khác để tiện bề làm ăn”, trong đó bao nhiêu phần là lòng tốt, bao nhiêu phần là cái bẫy đã được đóng gói tinh vi? Hồi đó, tôi tin sái cổ câu nói ấy như tin mệnh giá in trên tờ tiền. Giờ thì, những lời đường mật kiểu đó phải qua ba lớp kiểm chứng của tôi trước khi lọt vào tai.

Tráng miệng là một đòn chí mạng ép tôi phải phân định rạch ròi đâu là “chi phí kinh doanh” thực sự, đâu là một cái bẫy đắt tiền được ngụy trang hoàn hảo. Cái “vâng anh” ngoan ngoãn của tôi xuất phát từ một logic ngây ngô: lót tay là chi phí kinh doanh, nhậu nhẹt ngoại giao là chi phí kinh doanh, cái gì dính tới giấy tờ thủ tục cũng là chi phí kinh doanh. Lối mòn tư duy đó áp dụng đâu cũng đúng, ngoại trừ sai chí mạng trong cái ván bài tối hôm ấy.

Hậu vị đắng là một bài học về thứ “tiếng Việt làm ăn” rặt mùi giang hồ mà đố tìm thấy trong cuốn giáo trình kinh tế nào. Cách một cuộc gọi điện thoại được dùng để “kéo hội” đến ngay khi con mồi vừa yên vị. Cách người ta đẩy giá tiền lên qua mánh lới gọi món. Cách một thằng ranh con chưa đủ “tư cách” bị đem ra làm cái đích bao chót cho cả một đội hình. Cách tôn ti trật tự được thiết lập không cần bằng lời nói, mà qua những tiếng chuông điện thoại.

Hơi chát, nhưng đáng đồng tiền bát gạo. Đó là một khóa học cấp tốc mà các giáo sư hàn lâm không bao giờ có thể đứng lớp.

Ban đầu, tôi chọn học MBA vì ảo tưởng rằng có những thứ thượng thừa mình không tự học nổi ngoài đời. Phải đến hết học kỳ đó tôi mới vỡ lẽ: khả năng phán đoán chưa bao giờ nằm trong giáo trình, và nó càng không thể được rao giảng như Vận đơn hay Toán cao cấp. Ngay học kỳ sau, tôi quyết định nghỉ học (drop-out).

Trước khi đi tiếp, tôi phải rào trước một ý kẻo bạn đọc hiểu lầm: khi quyết định drop-out, trong tay tôi đã có một cái khách sạn đang chạy đều, một công ty startup đang trả lương cho nhân viên, và một tựa game vừa tung ra thị trường. Nghỉ học lúc đó là để dồn sức cho những cuộc chơi đang thực sự sống động, chứ không phải là nhảy xuống vực với hai bàn tay trắng. Nghỉ học khi chưa có gì dắt lưng lại là một bộ môn thể thao mạo hiểm hoàn toàn khác, và bài viết này không cổ xúy cho chuyện đó.


Câu chuyện tốn kém thời trẻ trâu của tôi không phải là trọng tâm của bài này. Điểm mấu chốt là người ta đang đánh đồng tai hại “tư cách” với “phán đoán” ở khắp nơi tôi tiếp xúc mỗi ngày, và sự nhầm lẫn đó đang bào mòn không đong đếm được nguồn lực của vô số cá nhân, gia đình và tổ chức.

Từ góc nhìn của một người làm mentor, đứng ra tuyển dụng và lăn lộn trong giới làm ăn tại Việt Nam, tôi đúc kết được ba kiểu “ảo tưởng” phổ biến nhất, và loại nào cũng đòi một cái giá rất chát.

Thứ nhất, các bậc phụ huynh Việt Nam không tiếc tiền vung tay cho con cái đi học Thạc sĩ hay MBA, đinh ninh rằng tấm bằng thứ hai kia sẽ đúc ra một người con chững chạc, biết tự quyết định đường đời. Thực chất, họ chỉ đang đổ tiền mua “tư cách”, bởi vì tư cách là món hàng có giá trên thị trường lao động, được niêm yết rõ ràng, dễ dàng cân đo đong đếm thứ hạng giữa các trường. Họ đâu có trả tiền cho “phán đoán”, vì làm gì có ai bán. Hai năm sau, đứa con xách vali về nước, khoác trên mình lớp áo tư cách lộng lẫy hơn, nhưng phán đoán thì vẫn èo uột như xưa, vì suốt hai năm trời ròng rã đó, đứa trẻ vẫn được ủ trong lồng kính an toàn, cách ly hoàn toàn khỏi hậu quả thật.

Thứ hai, rất nhiều mentee tuổi 27, 28 tìm đến tôi với chung một điệp khúc: “Em cần học thêm trước khi bước vào một vị trí lớn hơn”. Tôi thừa hiểu tâm lý đó, tôi cũng từng suy nghĩ y chang ở độ tuổi ấy. Đó chỉ là phản xạ có điều kiện của một người đã tiêm nhiễm tư duy: “Cứ đi học xong xuôi là tự khắc làm được việc”. Thế nhưng, câu nói mỹ miều đó che đậy một sự thật mà chính các bạn cũng không nhận ra: Các bạn đang mỏi mòn chờ đợi “tư cách” (cố cày thêm một cái chứng chỉ, lấy thêm một cái bằng, học thêm một khóa) và hoang tưởng rằng đó là cách mình đang rèn “phán đoán”. Trớ trêu thay, liều thuốc duy nhất ép phán đoán nảy nở là nhắm mắt nhảy ùm vào những tình huống không có sách giải, đối mặt với hậu quả máu thịt, và buộc bản thân phải tự mình cầm trịch quyết định.

Thứ ba, các doanh nghiệp hăm hở săn lùng nhân sự dựa vào “tư cách” vì nó quá dễ sàng lọc. CV mạ vàng, trường đại học top đầu, điểm GPA ngất ngưởng, những thứ này quá trực quan để so sánh, quá dễ để báo cáo cho cấp trên, và đặc biệt là cực kỳ dễ bao biện (defend) trong trường hợp có lỡ tuyển nhầm người. Ngược lại, đãi cát tìm vàng để mò ra dấu hiệu của “phán đoán” đòi hỏi chiều sâu, tốn nhiều công sức hơn, và gần như không thể đóng gói thành một quy trình nhân sự chuẩn mực. Bạn phải nhìn xem ứng viên kể về một quyết định ngu ngốc họ từng phạm phải và cách gánh hậu quả ra sao, hay cách họ giải mã một câu hỏi không có đáp án sẵn. Hệ quả là, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam vẫn miệt mài tuyển dụng sai lầm, rồi lại ngồi than vắn thở dài sao tìm người giỏi gian nan đến thế.

Đó chính là một cú “hớ” định giá tai hại của cả xã hội. Phần lớn những người đang tham gia thị trường giáo dục và thị trường lao động Việt Nam đều đang gán nhãn sai lệch cho một loại tài sản. Và hệ quả là chúng ta đang chứng kiến cả một thế hệ trẻ dồn hết vốn liếng để đầu tư quá tay vào lớp vỏ tư cách, trong khi lại bỏ đói hoàn toàn yếu tố “skin in the game” ngay ở giai đoạn mang tính bản lề nhất của cuộc đời.


Đừng vội hiểu lầm bài viết này là một bản tuyên ngôn bài trừ bằng cấp. Ông ngoại tôi hoàn toàn có lý khi cất công thuyết phục tôi bước chân vào cổng trường đại học - cái nền tảng học thuật ấy là điểm tựa thiết yếu, và tấm vé “tư cách” giúp tôi gõ cửa nhiều cơ hội trong suốt nhiều năm sau đó. Nếu thời gian có quay ngược lại, tôi vẫn sẽ chọn học đại học. Vẫn sẽ drop-out, nhưng chắc chắn là phải vào đại học trước đã.

Mục đích thực sự của bài viết này là muốn bạn rạch ròi hai loại tài sản khác biệt, để biết mình đang dồn vốn vào đâu và kho vũ khí của mình còn đang thiếu sót cái gì.

Thế nên, thay vì tranh cãi xem “có nên học đại học không”, câu hỏi sắc bén hơn mà bạn cần tự hỏi là: “Tôi đang vun đắp cho ‘tư cách’ bằng công cụ gì, và song song với đó, tôi đang ném bản thân vào đâu để trui rèn ‘phán đoán’?”. Một người trẻ tỉnh đòn sẽ luôn giữ trong tay đáp án cho cả hai vế cùng lúc.

Tuyệt đối không có đường tắt nào để xây dựng phán đoán. Công thức duy nhất là: Dám đưa ra quyết định có hậu quả thực tế; bắt đầu thật sớm khi hậu quả còn trong tầm kiểm soát; và liên tục lặp lại đủ nhiều để hình thành nên khuôn mẫu tư duy. Đó có thể là trích một khoản nhỏ đầu tư vào một thử nghiệm có nguy cơ mất tiền thật. Có thể là đứng ra ôm trọn trách nhiệm cho một quyết định ở công ty thay vì đá bóng đề xuất lên cho sếp chốt. Hoặc có thể là xắn tay vào một dự án phụ có chi phí thật và rủi ro thật, chứ không đơn thuần chỉ là làm vì sở thích. Điểm chung của ba dạng này là: chính bạn phải đưa đầu ra chịu báng, không ai gánh đạn thay, và xung quanh bạn luôn có những người sẵn lòng chỉ thẳng mặt khi bạn sai. Mỗi quyết định sai là một bài học có giá, và mỗi bài học có giá là một viên gạch đắp lên bức tường phán đoán. Trường học không có dư dả không gian cho những viên gạch đó, không phải vì trường học tệ, mà đơn giản vì nó được thiết kế để làm một việc hoàn toàn khác.

Một cú “Vâng anh” thiếu suy nghĩ năm tôi 19 tuổi đã gõ cho tôi một nhẽ mà không trường lớp nào dạy được. Tôi không hề cầu chúc cho ai phải lặp lại kịch bản tồi tệ đó. Nhưng tôi cũng hoàn toàn không muốn bạn sống một cuộc đời vô trùng, chưa một lần ném mình vào những cảnh huống có sức nặng hậu quả tương đương. Bởi vì chính những khoảnh khắc nghẹt thở ngoài đời ấy, chứ không phải những hàng ghế giảng đường, mới là lò luyện để sự phán đoán thực sự lớn lên.


Chia sẻ bài viết:

Next Post
Sự chuyển giao lớn không nằm ở điểm đến, mà ở việc chịu được khoảng giữa